Thứ Hai, 23/05/2022, 10:15 (GMT+07)
English version
 






   



   

 







 

 

 

 


 

 

 Tin Chuyên Ngành
Đóng

 
Có chất lượng sẽ có thị trường

Muốn có thương hiệu tốt phải chú ý đến chất lượng

 

Là người có kinh nghiệm chuyên sâu về sản xuất và nghiên cứu giống lúa Việt Nam, Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, cho rằng với diện tích canh tác tương đối ổn định (gần 5 triệu héc ta) và sản lượng lúa không ngừng tăng trong những năm qua (đã đạt 35,9 triệu tấn vào năm 2004) thì việc xây dựng, phát triển thương hiệu cho gạo Việt Nam là hoàn toàn khả thi.

 

Ông Trần Hoàng, Giám đốc Công ty Truyền thông tiếp thị Việt Nam (VietnamMarcom), người phụ trách thực hiện các dự án phát triển thương hiệu nông sản của Câu lạc bộ Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam (CLBXDTHNSVN), nhận xét: “Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới, nhưng chẳng lẽ lại không thể xây dựng cho mình những thương hiệu mạnh có thể đi vào bữa ăn của người tiêu dùng nhiều nước, như Ấn Độ, Thái Lan đang làm?”. Ông Hoàng cho biết thêm hạt gạo Việt Nam rất cần sự đầu tư đúng mức của Nhà nước và của từng doanh nghiệp để tạo dựng hình ảnh ấn tượng nhằm tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao giá trị xuất khẩu.

 

Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân và ông Trần Hoàng có cùng quan điểm, việc xây dựng thương hiệu gạo của Việt Nam không phải là chuyện mới. Thực tế gạo Việt Nam đã có một số thương hiệu khá nổi tiếng của các công ty xuất khẩu gạo như Long An, Cần Thơ và TPHCM. Nhưng vấn đề đặt ra là nếu muốn rút ngắn khoảng cách cạnh tranh  bất lợi với gạo nước ngoài (do hầu hết gạo Việt Nam đang xuất không có tên tuổi riêng của mình) thì phải đầu tư một cách bài bản…

 

Việc xây dựng thương hiệu cũng không nên chạy theo phong trào, công ty nào, nông trường nào cũng làm thương hiệu. Nên căn cứ vào những điều kiện, khả năng cạnh tranh và nhu cầu của mỗi doanh nghiệp, để quyết định xây dựng thương hiệu hay không, hoặc xây dựng như thế nào, và xây dựng thương hiệu cũng không phải là “lá bùa hộ mệnh” để giải bài toán đầu ra cho hạt gạo Việt Nam.

 

Một số ý kiến khác cho rằng, để thương hiệu không bị chết yểu, hoặc nhanh chóng phai nhạt phải giải quyết vấn đề từ gốc, đó là chất lượng hạt gạo. Ông Huỳnh Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Minh Cát (nhãn hiệu gạo Kim Kê), dẫn chứng: “Công ty chúng tôi có lần nhận được đơn đặt hàng xuất gạo đi Mỹ, khách hàng đều đồng ý về bao gói, quy cách, nhưng khi so sánh chất lượng sản phẩm thì họ lại chê gạo Việt Nam không bằng gạo Thái Lan. Theo tôi, thương hiệu mạnh là rất cần thiết, nhưng phải đi đôi với chất lượng sản phẩm, hai yếu tố này không thể tách rời”.

 

Ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực Miền Nam (kiêm Chủ tịch Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm Việt Nam), cho đây là bức xúc chung của cả bốn nhà (nhà khoa học, nhà nông, nhà kinh doanh, nhà quản lý). Theo ông, Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm nhất trí phải quan tâm đầu tư đúng mức xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam, vì không chỉ giúp mở rộng thị trường, mà còn đáp ứng khả năng hội nhập. “Nhưng tôi rất băn khoăn đến chất lượng, nếu không đặt chất lượng lên hàng đầu, xem đó như cái móng của ngôi nhà, thì phần trên của ngôi nhà sẽ dễ bị lung lay bất cứ lúc nào”, ông nói. Theo ông, nhược điểm của một số loại gạo thơm Việt Nam là giữ mùi không lâu; các khâu về giống, kỹ thuật canh tác, bảo quản sau thu hoạch, tính phù hợp của giống đối với từng giống lúa thơm chưa bảo đảm; quy hoạch vùng chuyên sản xuất chưa thuần nhất, do trồng xen các loại giống lúa thường với giống đặc sản, nên dễ bị lẫn tạp; sản lượng gạo thơm còn ít, khách hàng đặt mua số lượng lớn thì không có…

 

Giải pháp tổng hợp

 

Bà Trần Thị Kim Đính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An, đề xuất để gạo Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần có sự nỗ lực từ nhiều phía. Doanh nghiệp phải quan tâm đầu tư xây dựng thương hiệu đúng mức, mở rộng khai thác thị trường. Từ phía đầu vào sản phẩm, doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ tích cực từ các nhà khoa học, sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước để gìn giữ, phát huy được những giống lúa, gạo đặc sản vốn nổi tiếng thơm ngon trong nước, đưa ra các giống lúa chất lượng cao ứng dụng vào sản xuất.

 

Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu cảnh báo, cùng với việc hội nhập AFTA và WTO sắp đến, nhiều loại gạo thơm của Thái Lan, Ấn Độ sẽ tràn vào Việt Nam, nên mục tiêu lớn đặt ra cho Việt Nam là có thêm nhiều gạo thơm ngon, nhưng phải đủ sức cạnh tranh (chất lượng, giá cả, thương hiệu). Điều đó chỉ có thể giải quyết được bằng một giải pháp tổng hợp (giống, công nghệ sau thu hoạch, thương hiệu, thị trường).

 

Song song với với sự nỗ lực tự thân, sự hỗ trợ từ các chương trình quốc gia và quốc tế về công nghệ hạt giống (để cho ra lượng giống xác nhận dồi dào), theo Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, cần được đầu tư đúng mức, đúng tầm hơn. Ông cho biết sau năm năm (2001-2004) đầu tư nghiên cứu, ứng dụng giống lúa xác nhận, Việt Nam chỉ tốn khoảng 130 tỉ đồng, nhưng đã giúp năng suất tăng 10%, giá trị mang lại lên đến gần 2.000 tỉ đồng.

 

Theo Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, vấn đề thất thoát sau thu hoạch trong sản xuất nông nghiệp khá cao như hiện nay (13-16%) luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Lợi nhuận của người sản xuất, kinh doanh bị giảm một phần là do thất thoát sau thu hoạch. “Chúng ta nói quá nhiều, bức xúc quá nhiều, nhưng đầu tư thì quá ít, nếu đầu tư xây dựng thương hiệu thì nhất thiết phải lưu ý đến vấn đề này”, ông nói.

 

Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu cũng đưa ra những giải pháp quy hoạch các vùng trồng lúa thơm xuất khẩu thích nghi với thổ nhưỡng từng địa phương, tránh tình trạng ồ ạt chạy theo giống lúa thơm có thị trường tốt, nhưng thổ nhưỡng không phù hợp dẫn đến chất lượng không đồng đều, gây bất lợi trong cạnh tranh xuất khẩu. Như giống lúa Jasmine, vừa thơm, vừa cho năng suất rất cao, nhưng từ 60.000 héc ta năm 2004 vọt lên 100.000 héc ta năm 2005 thì chất lượng đã khác (do trồng trên đất không phù hợp), trong khi công tác nhân giống nguyên chủng, giống xác nhận chưa đáp ứng đủ theo yêu cầu sản xuất.

 

Về chính sách tiêu thụ, theo bà Trần Ngọc Sương, Giám đốc Nông trường Sông Hậu, đã lo chất lượng, thương hiệu và thị trường, nhưng không có chính sách tiêu thụ lúa, gạo tốt cho nông dân cũng khó có thể đẩy mạnh đầu ra. Thực tế cho thấy, giá cả lên xuống thất thường, bấp bênh, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người nông dân và đến chất lượng gạo.

 

Lợi thế từ thị trường trong nước

 

Nhiều ý kiến nhìn nhận, lợi thế so sánh giữa gạo thơm Việt Nam và gạo thơm của các nước xuất khẩu hàng đầu hiện nay còn chênh lệch khá cao. Chẳng hạn diện tích, sự ổn định và độ thuần chủng của gạo thơm Việt Nam khó có thể sánh với Ấn Độ và Thái Lan. Việt Nam chỉ mới xuất khẩu được 100.000 tấn gạo thơm vào năm 2004, còn Thái Lan đã xuất đến gần hai triệu tấn…

 

Vì thế, căn cứ vào điều kiện sản xuất và khả năng cung cấp các giống gạo thơm hiện của Việt Nam, có ý kiến nhấn mạnh, giải pháp trước mắt cho đầu ra hạt gạo thơm Việt Nam là thị trường nội địa, chứ không cần quá lo lắng đến thị trường xuất khẩu. Thực chất, diện tích, sản lượng giống lúa thơm của Việt Nam chưa phải nhiều để nói đến chuyện cạnh tranh quốc tế. Ngay diện tích canh tác phù hợp với giống lúa Nàng thơm Chợ Đào của Long An cũng chưa quá 500 héc ta. Với diện tích hạn hẹp như thế thì cũng không đủ cung cho thị trường trong nước nói chi đến xuất khẩu…                     

 

Diện tích lúa năm 2004 tuy có giảm 100.000 héc ta, nhưng sản lượng vẫn tăng khá cao, năng suất bình quân cả nước đạt gần 5 tấn/héc ta. Trong hội thảo chuyên đề về gạo tại Indonesia trong tuần qua, nhiều nước đánh giá rất cao khả năng phát triển nhanh của Việt Nam.

 

Một trong những yếu tố mang lại năng suất, sản lượng như trên là chúng ta giải được bài toán nước tưới. Đầu tư hệ thống thủy lợi đã giúp diện tích trồng lúa có nước tưới của Việt Nam tăng 3,7%, nâng tổng diện tích lúa có nước tưới của Việt Nam lên 80% (tỷ lệ cao nhất Đông Nam Á), đảm bảo trồng các giống lúa ngắn ngày. Năng suất lúa bình quân những năm 1980 tăng 2,9%/năm, đến những năm 1990 tăng đến 4,6%/năm.

 

(Theo GSTS Bùi Chí Bửu)

 

Trích Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 06/2005

 

Phan Văn Kiệt



Copyright © VietnamMarcom Since 2001. All rights reserved 2022