English version
 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 



 

 

 


 

 


 

 

 Tin Chuyên Ngành
Đóng
 
8 xu hướng của thị trường tiêu dùng VN
 

 

Các xu hướng này có thể giúp các doanh nghiệp (DN) định hướng được nhu cầu thị trường và thiết kế các sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng hiện nay và trong tương lai.

DN VN nhìn chung cứ tập trung làm hết dự án này đến dự án khác, miệt mài từ năm này sang năm khác mà dường như không biết cuối cùng con đường mình phải đi là đến đâu. Trong ba năm gần đây tổng số vốn đầu tư nước ngoài đổ vào thị trường VN chiếm gần 50% tổng số vốn đầu tư vào VN trong vòng 20 năm qua. Cơ hội kinh doanh mở ra khắp nơi, và các DN VN đổ xô đi kinh doanh ở nhiều lĩnh vực trong cùng một lúc, thậm chí có những lĩnh vực không là thế mạnh của họ.

Đến một lúc nào đó, khi các đối thủ nước ngoài nhảy vào thị trường VN với những thế mạnh của họ, khả năng cạnh tranh của những DN đầu tư dàn trải có còn không hay sẽ “nộp mạng” hết cho DN nước ngoài. DN VN cần có tầm nhìn ít nhất 10 năm tới và tự đặt cho mình câu hỏi: “Tôi muốn DN mình trở thành như thế nào trong vòng 10 năm tới?”, khi đó họ sẽ có một kế hoạch phát triển bài bản để trong thời gian 10 năm hoặc ngắn hơn đạt được mục tiêu mong muốn, nghĩa là muốn đạt được vị trí và cái gì trên thị trường?

TNS đã có nhiều cuộc điều tra thị trường, DN và người tiêu dùng thực hiện trong nhiều năm qua và phát hiện một số xu hướng.

1. Xu hướng lớn nhất và quan trọng nhất là công nghệ đã thay đổi nhiều đến thói quen giao tiếp và tiêu dùng thông qua điện thoại di động, Internet...

Hai yếu tố này đã làm thay đổi cuộc sống nhanh vô cùng. Nếu ai hay bất cứ DN nào không theo kịp sự phát triển này đồng nghĩa với tự giới hạn cuộc sống và vuột mất cơ hội. VN lại có tỉ lệ dân số trẻ, họ dùng điện thoại và Internet hằng ngày với nhiều mục đích khác nhau vì nhanh, tiện lợi và rẻ. Ở Philippines, mỗi ngày có hơn 22 triệu tin nhắn qua điện thoại được chuyển đi và điện thoại di động trở thành một ngành kinh doanh béo bở.

2. Số người sử dụng dịch vụ của các ngân hàng tăng lên là một tiềm năng rất lớn trong tương lai.

Ba năm trước VN có khoảng 20 ngân hàng nhưng nay con số này sẽ là 75 vào cuối năm 2008. Thử nghĩ xem VN - nước có GDP thấp thứ ba trong ASEAN - tại sao có nhiều ngân hàng đến thế? Những năm trước muốn mua một chiếc xe máy, ngoài tiền để dành bạn phải vay mượn người thân, gia đình...

Nay nếu muốn mua nhà bạn chỉ cần chọn một trong những ngân hàng đang cho vay để mượn tiền mua nhà và trả dần theo thời gian. Số lượng người dân dùng ATM, thẻ tín dụng trong các giao dịch đã tăng lên nhanh chóng. Mười năm trước nếu bạn là người thành công, bạn sẽ giấu, nhưng nay người ta tự hào thể hiện mình là người thành đạt thông qua số lượng của những chiếc thẻ nhựa này.

3. Khát vọng sở hữu tài sản lớn gia tăng.

Ở TP.HCM, Hà Nội và nhiều TP lớn, mỗi gia đình có ít nhất một chiếc xe máy trong nhà. Giờ đây lượng người có ôtô đã tăng mà sở hữu ôtô có nghĩa là phải chi thêm một khoản tiền khá lớn cho tài xế, nhiên liệu, chỗ đậu xe... Ai cũng muốn mua nhà, chung cư. Người dân dường như bị thuyết phục rằng mình đang giàu và họ rất tự tin. Khi họ tự tin và nghĩ rằng mình giàu có họ sẽ xài nhiều tiền. Ngày trước người ta có thể để dành 80% những gì họ kiếm được, nay người ta chỉ để dành 20% số tiền kiếm được mà thôi.

4. Người tiêu dùng VN đã quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe.

Trước kia người VN ít quan tâm đến vấn đề này nhưng nay công việc đã nhiều hơn, công việc khó hơn, thời gian ngủ ít hơn, nên phần lớn người tiêu dùng VN đã xem sức khỏe là điều cần phải được quan tâm. Đặc biệt phụ nữ quan tâm nhiều đến việc liệu mình đã sử dụng đúng loại thực phẩm có đầy đủ dưỡng chất chưa, nhìn có mạnh khỏe không..., vì nếu nhìn bạn khỏe khoắn đồng nghĩa với bạn thành công. Người VN đã bận rộn hơn và ít thời gian rảnh rỗi hơn. Hãy nhìn sự tăng trưởng của các nhãn hiệu cà phê pha sẵn như G7, Vinacafe, Nestcafe... sẽ thấy lượng người muốn uống cà phê nhỏ từng giọt qua phin đã giảm dần vì họ không còn nhiều thời gian.

5. Cuộc sống của người dân ở nông thôn cũng bắt đầu thay đổi theo hướng thành thị rất nhanh.

Lượng người sở hữu tivi, điện thoại di động tăng lên nhiều. 75% dân số VN ở nông thôn, 60% GDP cũng đến từ đây và các DN cũng bắt đầu để ý nhiều đến thị trường này và cơ hội kinh doanh cũng đang tăng lên đáng kể. Khảo sát cho thấy 15% người dân nông thôn sở hữu hàng hiệu (hiện có khoảng 65 triệu người dân sống ở nông thôn và dân số khu vực này đông hơn gấp đôi thành thị).

Vì dân số VN còn trẻ, kinh tế VN trong mấy năm qua khá thành công nên người dân được hưng phấn để thể hiện mình thành đạt hơn, giàu có hơn... Chính vì vậy với họ, việc đang dùng điện thoại gì, uống loại bia gì rất quan trọng vì nó giúp bạn cho mọi người thấy bạn là ai. Điều này cũng thay đổi khá nhanh trong vòng ba năm qua. Có thể một anh A nào đó rất thích uống bia hơi, nhưng vì có nhiều người xung quanh hoặc trong một dịp đặc biệt nào đó anh ta lại chọn một loại bia có thương hiệu để uống vì bia hơi chỉ dành cho người có thu nhập thấp hoặc dân nông thôn.

6. VN có lượng phụ nữ đi làm đứng thứ ba ở châu Á.

VN có khoảng 77,3% dân số phụ nữ đi làm và phần lớn họ còn có việc làm tốt. Họ có thể kiếm tiền đủ cho những nhu cầu riêng cho mình để đi spa, shopping những món hàng hiệu đắt tiền... Phụ nữ VN giờ đã trở thành những người tiêu dùng có nhiều quyền năng. Bạn có thể nhìn thấy những DN VN làm ăn thành công trên thương trường mà khách hàng chủ yếu của họ là phụ nữ. Sự thay đổi này làm thay đổi cả cách mua sắm, quảng cáo và thiết kế sản phẩm dành riêng cho phụ nữ. Rồi thị trường mỹ phẩm, chăm sóc da, ngay cả nước uống cũng có những sản phẩm dành riêng cho phụ nữ... Phụ nữ biết cách làm thế nào tự chăm sóc mình, số tiền mà phụ nữ chi cho nhu cầu về mỹ phẩm, chăm sóc da, tóc, quần áo đẹp... là vô cùng lớn và những thứ mà họ mua thường sang trọng.

7. Thị trường hàng hóa, dịch vụ cho trẻ em cũng là một xu hướng lớn.

Hằng năm có hơn 1,2 triệu trẻ em sinh ra và trẻ em muốn gì thì đều có. Tã lót, quần áo, sữa, thực phẩm, đồ chơi... toàn là những ngành kinh doanh có tiềm năng vô cùng lớn. Ngày trước người ta chỉ mua những gì mà họ có thể mua nổi, nhưng nay cha mẹ thường mua những gì tốt nhất cho con của họ bởi họ đã không thể có được nó khi họ còn trẻ. Chính vì vậy thị trường đồ dùng dành cho trẻ em VN là vô cùng lớn. Trẻ em bây giờ không thích uống sữa mà mẹ mới mua thì ngay lập tức các bà mẹ mua thứ khác, điều này chẳng thể nào xảy ra ở thời kỳ trước.

8. Truyền thông cũng có xu thế mới.

Trong khoảng thời gian từ năm 2006-2007, lượng thời gian xem tivi trung bình đã giảm xuống mặc dù số lượng tivi bán ngày càng tăng. Điều này có nghĩa quảng cáo bằng tivi đã không còn ảnh hưởng nhiều như trước nữa. Các DN bỏ tiền ra quảng cáo trên tivi chẳng muốn nằm cuối trong danh sách chương trình quảng cáo.

Quảng cáo trên radio đang phát triển nhanh và mạnh. Quảng cáo trên báo in phát triển bền vững và đều. Quảng cáo trên Internet cũng quan trọng và có tiềm năng bởi 80% những người trong độ tuổi 15-24 đều lên mạng hằng ngày.

Nói chung, thị trường tiêu dùng VN rất tiềm năng trong nhiều năm tới vì VN có tỉ lệ dân số trẻ thứ hai sau Philippines trong khu vực châu Á. Họ là những người tiêu dùng tiềm năng sẽ quyết định tương lai tiêu dùng của VN bởi khi trẻ không có tiền, họ dùng tiền của cha mẹ. Khi những người này lớn hơn, họ tốt nghiệp ĐH, đi làm, có tiền thì nhu cầu tiêu dùng của họ tăng lên rất lớn.

Thị trường tiêu dùng của VN là vô cùng tiềm năng vì mọi thứ chỉ mới bắt đầu. Những người trẻ này ngoài nhu cầu bắt buộc như ăn uống, họ còn có nhu cầu mua điện thoại di động, xe máy, tivi, máy nghe nhạc và nhiều đồ dùng khác... Tiêu dùng VN sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Chính vì vậy, DN nước ngoài phải có kế hoạch để phát triển trong vòng 10 năm tới chứ đừng nhìn ngắm thị trường hiện nay.

Và điều này bắt DN phải thay đổi cách họ bán hàng hay marketing. Giờ đây họ sẽ phải bán cái mà người ta cần. Muốn như thế họ phải tiến hành khảo sát nhu cầu của người tiêu dùng thật kỹ (giá bao nhiêu thì người tiêu dùng có thể mua được? Mua được ở đâu? Mua sản phẩm kiểu gì? Chất lượng thật tốt với giá cả thật đắt hay giá cả vừa phải với chất lượng vừa phải...?), cái gì họ cần và muốn thì hãy cung cấp cho người tiêu dùng cái đó. Khi biết rồi thì hãy phục vụ họ. VN là nước xuất khẩu và nhiều DN VN xuất khẩu, nhưng những gì mà VN xuất khẩu hiện nay: gạo, đường, cà phê, tiêu... chỉ bán sản phẩm thô ở các trung tâm bán sỉ ở Mỹ, phải dần nghĩ đến việc bán những gì trực tiếp đến người tiêu dùng và giải quyết được nhu cầu của họ.

LÊ NAM ghi

 
 

 






 

Thư Viện Chuyên Khảo Công nghệ Quảng Cáo ra đời vào tháng 4 năm 2001 với hơn 500 đầu sách tài liệu quý. 
Và liên tục trong 18 năm qua, một loạt các dự án tri thức, thư viện chuyên khảo tiếp tục được phát triển như Marcom World,
Thư viện video MarcomBest,  Marcom Books, 
DigiMarcom, Trung Tâm Khảo cứu Thương hiệu, Tiếp thị Nông sản, Tiếp thị Điểm đến... 
cùng việc kết nối liên tục với các sự kiện quốc tế như  NewYork Advertising Festivals, Festival Quảng Cáo Sáng tạo Châu Á (Adfest), AdAsia, DigiAsia...

 


 



  Login Copyright © VietnamMarcom Since 2001. All rights reserved 2019.