English version
 
 View Article

Current Articles | Categories | Search | Syndication

Ngành du lịch: Cần chuyển mạnh hơn nữa trước thời cơ mới
     
 

ImageLà thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập sâu hơn với nền kinh tế toàn cầu. Trong đan xen thời cơ và thách thức, du lịch Việt Nam đang có những bước chuyển toàn diện từ tư duy, quản lý đến tổ chức và bước đi để thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp xứng đáng hơn vào phát triển đất nước. Xin giới thiệu cùng bạn đọc cuộc trò chuyện giữa phóng viên Nhân Dân cuối tuần với ông Hoàng Tuấn Anh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam. 

PV: Thưa Tổng Cục trưởng, trong những năm qua du lịch Việt Nam đã tạo được những tiền đề tương đối cơ bản với một hệ thống quản lý từ trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó, Luật Du lịch đang phát huy  hiệu lực là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển sâu hơn, rộng hơn của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, ông có thể hài lòng về điều gì nhất?

Ông Hoàng Tuấn Anh: Trên góc độ tạo dựng nền tảng cho phát triển, tôi muốn nói đến những chuyển động rất đáng kể của cơ sở hạ tầng du lịch. Gần bốn nghìn tỷ đồng được Nhà nước đầu tư trong những năm qua chưa thấm vào đâu so với yêu cầu, nhưng đây chính là  cú  huých  tạo  đà  hết  sức quan trọng. Chính từ "cú huých" này, các địa phương đã nhận thức đầy đủ hơn vai trò của phát triển cơ sở hạ tầng cho du lịch và cùng đó là hiệu quả của nó, nên đã chủ động đầu tư đúng mức hơn. Quảng Nam, Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang... một loạt con đường biển mở ra cùng với sự gia tăng của du khách. Mỹ Sơn, từ chỗ cố gắng lắm mỗi năm cũng chỉ độ nghìn du khách nước ngoài, vài chục nghìn du khách trong nước, nhưng giờ đây, mỗi năm di sản văn hóa thế giới này đón vài trăm nghìn du khách nước ngoài, hàng triệu khách trong nước nhờ con đường từ Quốc lộ 1A lên. Rồi hệ thống đường vào Ðền Hùng, Hồ Núi Cốc... Chưa kể đầu tư nước ngoài, thí dụ dự án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long...

PV: Ông vừa nhắc đến đầu tư trực tiếp từ  nước ngoài?

Ông Hoàng Tuấn Anh: Ðúng, riêng trong ngành du lịch đã đạt khoảng 7/60 tỷ USD đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Con số này đang tiếp tục lớn hơn, góp phần xây dựng các khách sạn, khu vui chơi giải trí, các siêu thị, sân gôn... chất lượng cao. Ngoài ra, chúng tôi đã thiết lập quan hệ song phương với 37 nước, quan hệ đa phương với bốn tổ chức du lịch thế giới; bỏ thị thực ở hai mức 15 và 30 ngày cho 12 nước...

PV: Tuy nhiên, công tác quảng bá của ta còn chưa làm được nhiều lắm so với những gì có thể và cần phải làm? 

Ông Hoàng Tuấn Anh: Cũng phải kể tới những cố gắng, nhất là việc tổ chức các Năm Du lịch. Bên cạnh đó, hoạt động Tuần lễ Du lịch của các địa phương cũng góp phần nhất định trong quảng bá các điểm đến. Ðặc biệt, thời gian qua, ngành du lịch cũng đã kết hợp với nước ngoài, hằng năm tổ chức mười sự kiện du lịch ở Pháp, Ðức, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Singapore, Thái- lan... Song đó mới chỉ là những cố gắng ban đầu. Vấn đề cơ bản hiện nay là đòi hỏi một bước chuyển về chất trong hoạt động quảng bá, thể hiện ở tính chuyên nghiệp và cùng đó là kinh phí đầu tư.

PV: Thật khách quan, ông nhìn nhận thế nào về du lịch Việt Nam?

Ông Hoàng Tuấn Anh: Trước hết, phải khẳng định vị trí và tầm ảnh hưởng của du lịch Việt Nam đã nâng lên rõ rệt. Theo kết quả nghiên cứu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC), Việt Nam xếp hạng 6 trên Top 10 các nước phát triển du lịch và lữ hành tốt nhất trong thời gian từ 2007 đến 2016. Gần đây nhất, năm 2006, ta đón 3,6 triệu khách quốc tế, 17,5 triệu khách trong nước, thu 51 nghìn tỷ đồng. Năm 2007 dự kiến đạt khoảng 60 nghìn tỷ đồng, lượng khách quốc tế ước tính 4,5 triệu người. Thông qua đó, ngành du lịch thu hút gần một triệu lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo và qua xóa đói, giảm nghèo mà giải quyết tình trạng lộn xộn trong các khu vực du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái... Tuy nhiên, để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cần "chuyển mạnh hơn nữa" trong nhận thức về vai trò vị trí của du lịch đối với quá trình đổi mới kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, tức là hiểu về du lịch đầy đủ hơn, bản chất hơn. Thí dụ, sản phẩm du lịch là sản phẩm hàng hóa nhưng bán không mất, trái lại càng bán nhiều càng nhân lên các giá trị. Như biển chẳng hạn, với 3.260 km bờ biển, ta sẽ làm gì đây? Về việc này, ta phải học Cuba. Nhờ biển mà Cuba vượt qua nhiều cơn khủng hoảng. Tất cả là do ý thức được lợi thế, nên họ có chương trình bảo vệ, chống ô nhiễm và khai thác giá trị du lịch biển một cách hiệu quả nhất. Hoặc Tây Ban Nha, một trong những nước nghèo nhất châu Âu vào những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng do biết quy hoạch và tập trung đầu tư những khu khách sạn và vui chơi giải trí cao cấp, giờ với 45 triệu dân, họ đón 55 triệu khách du lịch, thu khoảng 70 tỷ USD/năm...

Ngoài ra, cần có cái nhìn thực chất hơn về du lịch. Với số lượng cơ sở lưu trú hiện nay, ta sẽ không đáp ứng được nhu cầu tăng khách trong thời gian sắp tới. Mà cái thu chính lại từ lưu trú. Thống kê về chi phí du lịch cho thấy:  Ở 50%, ăn 20%, mua sắm 30%. Rõ ràng giữ chân khách nhiều ngày mới là điều quan trọng. Việt Nam hiện có 25 khách sạn 5 sao, 65 khách sạn 4 sao, 125 khách sạn 3 sao.

PV: Nhưng không phải du khách nào cũng có điều kiện để tiêu sài sang. Vậy ông quan niệm thế nào về khai thác và phát triển thị trường du lịch?

Ông Hoàng Tuấn Anh: Du lịch có tính hai mặt. Chúng ta cần có đông du khách, song đôi khi, đông chưa chắc đã hiệu quả. Tôi đang chỉ đạo thống kê những tác động tiêu cực của du lịch đối với nền kinh tế và môi trường xã hội để qua đó chủ động có biện pháp khắc phục. Bài toán ở đây là sự cân đối và hài hòa. Nhưng có một thực tế không thể không quan tâm: Chỉ với 30 nghìn du khách Nga, một năm ta thu 500 triệu USD. Hiện nay, khách nước ngoài sang Việt Nam, tiêu xài nhất là khách Nga, sau đến khách Mỹ. Ðiều này đặt ra những suy nghĩ không chỉ về phát triển thị trường hay chất lượng các sản phẩm du lịch.

PV: Nếu có thể phác thảo một chiến lược phát triển du lịch Việt Nam trong những năm tiếp theo, ông sẽ ưu tiên quan tâm điều gì?

Ông Hoàng Tuấn Anh: Ít nhất là năm vấn đề lớn. Một, du lịch Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới với tư cách là một thời cơ, một lợi thế lớn so với các ngành khác. Vì sao? Vì sản phẩm của nó không mất, lại giải quyết được nhiều lao động và xuất khẩu tại chỗ, chưa kể một nền văn hóa giàu bản sắc, có thiên nhiên tuyệt đẹp, có ẩm thực phong phú và đặc biệt con người cởi mở, thân thiện... những giá trị mà bất cứ khách du lịch nào cũng mong muốn và trân trọng. Hai, cần đối xử với du lịch như thế nào trong điều kiện mới? Chắc chắn phải là một thế đòi hỏi cao hơn, mà muốn vậy phải cho nó một điều kiện, trước hết là về mặt tổ chức. Là một ngành kinh tế quan trọng, du lịch xâu chuỗi rất nhiều ngành kinh tế văn hóa khác nhau. Như vậy, phải hiểu và đánh giá du lịch đúng tầm của nó có và cần phải có. Ba, mạnh dạn đột phá. Ðầu tư cho các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp thu hút nhiều tiền của du khách là mục đích của du lịch. Như vậy cần nâng cấp và mở rộng các sân bay quốc tế, bởi nếu không, khách du lịch có tiền sẽ không đến với anh. Bốn, các cấp và các doanh nghiệp phải chủ động đầu tư hơn nữa cho cơ sở hạ tầng du lịch với một tầm nhìn dài, cơ bản, trên cơ sở có quy hoạch. Song, thứ năm, điều bao trùm vẫn là con người. Với ngành du lịch, con người càng quyết định hơn vì bản thân con người cũng là một sản phẩm du lịch, họ là kênh đầu tiên để du khách tiếp cận và hiểu được giá trị của một nền văn hóa. Bởi vậy, thay vì là công cụ của du lịch, con người làm du lịch hãy trở thành một sản phẩm của du lịch theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Và đó là yêu cầu mới trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

PV: Vâng, quả là những đòi hỏi rất cao. Trân trọng cảm ơn ông và xin chúc ngành du lịch chủ động theo kịp yêu cầu đặt ra, phát triển xứng tầm một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

 

Theo Nhân Dân

 
Previous Page | Next Page
 



  Login Copyright © 2000 VietnamMarcom. All rights reserved.